BÀI DỰ THI GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC

Tài liệu đính kèm: Tải về

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NĂM CĂN

TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN TÁM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                       Đất Mới, ngày 05  tháng 02  năm 2018

                                         

BÀI DỰ THI

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN THỂ DỤC CẤP TIỂU HỌC

 

          -  Họ và tên: LÊ VĂN THÌN

               - Chức vụ: Giáo viên

          -  Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lê Văn Tám

 

BÀI LÀM

 

          Hiện nay nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, hội nhập kinh tế ngày càng mở rộng đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam không ngừng cải tiến, đổi mới phù hợp với thời đại. Trong tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta thời gian qua đã đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể nhằm đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà, trong đó, việc đổi mới về nội dung, phương pháp giảng dạy và cách thức đánh giá học sinh là những thay đổi bước đầu tạo tiền đề quan trọng trong thành công của công cuộc đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục phố thông nói riêng.

          Đổi mới phương pháp dạy học là xu thế phát triển và đáp ứng nhu cầu của thực tiễn giáo dục hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy học cũng là mục tiêu cấp bách của các môn học trong nhà trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục toàn diện. Môn thể dục cũng không nằm ngoài mục tiêu đó. Quá trình dạy học môn thể dục, yêu cầu người giáo viên phải tích cực đổi mơi phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học, lấy người học làm trung tâm, đảm bảo giờ dạy học luôn sinh động và hấp dẫn, làm cho học sinh dễ tiếp thu bài, chủ động và hứng thú trong tập luyện. Không đổi mới phương pháp dạy học, sẽ làm hạn chế mục tiêu và chất lượng của môn học.

          Xuất phát từ cơ sở trên tôi đã tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực của học sinh trong việc học tập môn Thể dục trong trường học. Mục đích của tôi là tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng và đưa ra một số biện pháp, cũng như cải tiến các phương pháp dạy học và cách thức đánh giá nhằm  giúp học sinh phát triển tinh thần học tập, yêu thích và có thái độ đúng đắn trong việc học tập của mình. Một số nguyên nhân cụ thể như sau:

            - Thứ nhất: Nhiều học sinh không chủ động trong việc tập luyện TDTT thường xuyên, còn xem nhẹ tầm quan trọng của môn học dẫn đến tình trạng phân biệt giữa môn học chính và môn học phụ, gây ảnh hưởng không tích cực trong học môn thể dục và tập luyện, một số học sinh có thể trạng yếu, thiếu cân, suy dinh dưỡng… vì thế mà tinh thần tập luyện của các em đó cũng bị ảnh hưởng không tốt dẫn đến tình trạng thiếu tích cực trong học tập và tập luyện TDTT hàng ngày.

           -  Thứ hai: Một số nội dung và phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa thật sự cuốn hút và gây được hứng thú cho học sinh dẫn đến tình trạng mất tập trung, thiếu tích cực trong tập luyện. Việc nắm bắt cũng như đánh giá trình độ học tập của học sinh chưa kịp thời và còn hạn chế, cách thức đánh giá chưa tích cực, thiếu khoa học dẫn đến việc đánh giá học sinh còn chưa chặt chẽ và chủ quan.

          - Thứ ba: Cơ sở vật chất của một số trường học hiện nay còn thiểu thốn, cũ kỹ. Điều kiện tập luyện còn có nhiều hạn chế như sân tập chưa có mái che, thiếu bóng mát dẫn đến tình trạng mưa không có chỗ tập luyện, nắng thì làm giảm sự hứng thú của học sinh, một số trường học không đáp ứng đủ diện tích sân chơi cho học sinh, hoặc có nhưng không đảm bảo về an toàn, thiếu bóng mát… Đa số các trường Tiểu học hiện nay đều dạy học hai buổi trên ngày, điều kiện thời gian dành cho các hoạt động giáo dục ngoài giờ khác, đặc biệt là cho hoạt động vui chơi và TDTT  rất  hạn chế, điều đó dẫn đến một số trường học hiện nay không thường xuyên tổ chức các hoạt động TDTT trong trường học, vì vậy điều kiện tham gia vui chơi TDTT của các em vẫn còn nhiều hạn chế.

          - Thứ tư:  Đặc điểm địa bàn dân cư của địa phương  phân bố rộng rãi, thưa thớt, nhiều sông ngòi, kênh rạch dẫn tới các hoạt động thể thao cộng đồng vẫn gặp nhiều hạn chế.  Địa phương hiện nay không có nhiều các địa điểm vui chơi tập trung cho các em, chính quyền địa phương không thường xuyên tổ chức các phong trào thể dục thể thao cho quần chúng đặc biệt là cho đối tượng học sinh tham gia, chưa thật sự quan tâm tới việc đôn đốc việc rèn luyện thể dục thể thao với con em, chưa tạo ra được nhiều sân chơi thể thao bổ ích nơi các em sinh sống.

          - Thứ năm: Một bộ phận lớn gia đình học sinh còn gặp khó khăn về điều kiện sống dẫn đến cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của học sinh chưa được đáp ứng thật sự đầy đủ.  Nhiều phụ huynh chưa nắm được tầm quan trọng của TDTT trong cuộc sống hàng ngày. Một số bộ phận phụ huynh còn có sự phân biệt môn học chính và môn học phụ dẫn đến việc không nhắc nhở, đôn đốc, chỉ bảo cũng như tạo điều kiện cho các em tập luyện TDTT thường xuyên khi ở nhà. Nhiều gia đình không có thói quen tập luyện thể dục thường xuyên nên dẫn đến tình nhiều học sinh không thường xuyên tập luyện TDTT khi ở nhà.

          Từ những kết luận mà bản thân tôi đã rút ra được trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, tôi đã đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả giảng dạy trong môn Thể dục cũng như tập luyện TDTT của học sinh như sau:

          - Thứ nhất:  Về phía học sinh: “Cần tăng cường giáo dục ý thức cho học sinh trong học tập cũng như tập luyện TDTT khi ở nhà”.

          Ý thức tác động và điều khiển mọi hoạt động của con người. Thực tế đã chứng minh muốn làm được bất cứ điều gì đạt hiệu quả cao thì trước hết phải hứng thú đối với công việc đó, trong học tập và luyện tập thể dục, thể thao cũng vậy. Ngoài khả năng luyện tập của bản thân còn có nhiều đức tính để tạo cho học sinh đạt kết quả cao như tính tự giác, tính sáng tạo, nỗ lực ý chí, ý thức học tập, động cơ luyện tập đúng đắn, sự hứng thú trong luyện tập. Vì vậy, tôi xác định việc giáo dục ý thức cho học sinh là một điều cần thiết phải thực hiện đầu tiên.

          Giáo viên cần giáo dục cho học sinh ý thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập và tập luyện thể dục thể thao trong Nhà trường cũng như trong cuộc sống thường ngày.

          Để làm được điều này, ngoài lý luận giáo viên cần thuyết phục học sinh, bằng việc đưa ra những dẫn chứng cụ thể mang tính thuyết phục cao, những câu chuyện hoặc những tấm gương của các nhân vật lịch sử, làm cho học sinh quan tâm, ghi nhớ. Đặc biệt người giáo viên cũng là một tấm gương sáng để học sinh noi theo.

          Bên cạnh đó giáo viên cần giáo dục, cung cấp các kiến thức, tài liệu, phim ảnh, sách báo liên quan, để học sinh có thể tìm hiểu và nắm được các phương pháp luyện tập an toàn.

          - Thứ hai: Về phía giáo viên: “Cần nghiên cứu, cải tiến phương pháp giảng dạy và kỹ thuật đánh giá nhằm phát huy tính tích cực của  học sinh”.

          1. Giáo viên cần tăng cường nghiên cứu, cải tiến và đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng phù hợp với xu hướng giáo dục hiện nay:

          Qua quá trình nghiên cứu,  kinh nghiệm dạy học của bản thân và qua tham khảo ý kiến của các giáo viên giảng dạy bộ môn thể dục, tôi thấy việc tạo động cơ học tập và tập luyện cho học sinh là một yếu tố rất quan trọng. Ở lứa tuổi này dù ý thức tư duy của các em đã hình thành nhưng đặc điểm phát triển tâm lý của các em chưa hoàn thiện, tập trung chú ý không bền vững, dẫn đến sự dễ phân tán và mất tập trung. Giáo viên cần phải nghiên cứu nội dung kỹ lưỡng, đổi mới phương pháp giảng dạy, tạo được hứng thú trong học tập và tập luyện cho học sinh, quan tâm tới các đối tượng khác nhau trong lớp để có biện pháp giảng dạy hợp lý.

          Vì vậy, để dạy tốt môn thể dục, tôi đã cải tiến và sử dụng những phương pháp dạy học cụ thể sau:

          a. Nhóm phương pháp sử dụng lời nói:

           Đây là nhóm phương pháp giáo viên thường sử dụng lời nói để giảng giải, phân tích, vấn đáp, đàm thoại, kể chuyện, mệnh lệnh, nêu gương, nhận xét, đánh giá... để giới thiệu kỹ thuật động tác, kiến thức mới, phân tích về nội dung cơ bản, nhiệm vụ bài học, phương hướng chuyển động của các bộ phận cơ thể, các mấu chốt kỹ thuật động tác...

                   + Ưu điểm của phương pháp này: xây dựng được khái niệm ban đầu về động tác, giúp học sinh nắm được chi tiết, cấu trúc kỹ thuật động tác, nhiệm vụ và yêu cầu giờ học, tăng cường tính tư duy cho học sinh.

                    + Nhược điểm của phương pháp này: Học sinh không thấy được biên độ, đường đi, hướng động tác kỹ thuật.

                   + Yêu cầu khi sử dụng phương pháp này:

  • Khi giảng giải (lời nói) cần có sức truyền cảm, đủ âm lượng, tạo nên sự chú ý theo dõi của học sinh;
  • Lời giảng của giáo viên cần chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu làm nổi bật trọng tâm. Không giải thích dài dòng làm mất thời gian luyện tập của học sinh;
  • Khi sử dung phương pháp vấn đáp, câu hỏi phải rõ ràng, trong sáng, vừa sức với từng đối tượng học sinh;
  • Khi sử dụng khẩu lệnh cần phải dứt khoát, rõ ràng, có sức truyền cảm, lời nói của giáo viên cần chuẩn xác khi giao nhiệm vụ, căn dặn, hay phê bình, động viên học sinh.

          b. Nhóm phương pháp trực quan:

          Phương pháp Trực quan là các hình thức thị phạm động tác của giáo viên hay cán sự bộ môn (Trực quan trực tiếp), xem tranh ảnh, băng hình, biểu đồ, biểu mẫu (trực quan gián tiếp) nhằm biểu diễn lại kỹ thuật động tác giúp học sinh hiểu qua về hình dáng, biên độ, kết cấu, hướng chuyển động và thứ tự tiến hành của kỹ thuật động tác đó.

                   + Ưu điểm của phương pháp này: Đây là phương pháp chủ yếu giúp học sinh nắm bắt được bản chất cụ thể của biên độ, đường đi, hướng động tác kỹ thuật, từ đó giúp các em bắt chước và làm theo.

                    + Nhược điểm của phương pháp này: Nếu lạm dụng phương pháp này sẽ hạn chế đến khả năng tư duy của học sinh để hiểu về kết cấu kỹ thuật động tác trong quá trình học tập.

                   + Yêu cầu khi sử dụng phương pháp này:

  • Động tác làm mẫu phải chính xác, đẹp, hoàn chỉnh để giúp học sinh nắm được những yếu tố cơ bản của kỹ thuật;
  • Có thể làm mẫu toàn bộ động tác hoặc một bộ phận của động tác, làm nhanh hoặc chậm, di động hoặc tại chỗ, động tác đúng và động tác sai, tay không hoặc có dụng cụ... Đối với động tác mới và khó cần làm nhiều lần và làm từ chậm đến nhanh;
  • Vị trí làm mẫu và hướng làm mẫu phải phù hợp để mọi học sinh có thể nhìn thấy, góc độ của động tác (trung tâm đội hình);
  • Khi làm mẫu động tác cần kết hợp với việc giải thích kỹ thuật để giúp học sinh nắm rõ  các yếu lĩnh kỹ thuật nhanh hơn;
  • Ngoài việc làm mẫu, giáo viên cần phải tăng cường sử dụng tranh ảnh, biểu đồ, hình vẽ (nhất là các bài học có nội dung mới) nhằm giúp học sinh hiểu và nắm được kỹ thuật nhanh hơn và vận dụng vào tập luyện. Tranh ảnh, biểu đồ phải được treo xuyên suốt trong tiết học để học sinh có thể đối chiếu giữa động tác của mình với tranh nhằm sửa chữa những sai sót của mình quá trình tập luyện.

          c. Nhóm phương pháp hoàn chỉnh và phân chia:

                   - Phương pháp hoàn chỉnh: Là tập các động tác từ đầu tới cuối, không phân nhỏ thành các bộ phận.

                    + Ưu điểm: Tạo được cảm giác đúng toàn bộ kỹ thuật, dễ dàng nắm được hệ thống của động tác.

                    + Nhược điểm: Học sinh khó nắm được các chi tiết của động tác, nên thường chỉ sử dụng khi dạy các động tác đơn giản.

                   - Phương pháp phân chia: Là chia các động tác thành các kỹ thuật riêng lẻ, hướng dẫn học sinh tập từng phần kỹ thuật. Khi từng phân kỹ thuật được học sinh thực hiện thuần thục thì ghép các phần đó lại thành một động tác hoàn chỉnh.

                    + Ưu điểm: Học sinh nắm được chi tiết của từng phần động tác, tiết kiệm được thời gian, thích hợp khi giảng dạy các động tác khó, phức tạp.

                    + Nhược điểm: Chia động tác ra nhiều phần chi tiết, kỹ thuật riêng lẻ học sinh sẽ khó nắm được hệ thống của các động tác, đưa đến định hình động tác không chính xác.

                      è Tóm lại: hai phương pháp trên đều có ưu điểm và khuyết điểm riêng của nó, không nên lạm một phương pháp nào cho tất cả các động tác, mà giáo viên phải nghiên cứu kỹ, sử dụng phối hợp, bổ sung hai phương pháp trên cho nhau thật hợp lí.

                   + Yêu cầu khi sử dụng phương pháp này:          

  • Giáo viên cần nghiên cứu kĩ động tác để quyết định nên tiến hành cho học sinh tập hoàn chỉnh hay phân chia;
  • Khi sử dụng phương pháp hoàn chỉnh cần chú ý tìm cánh nhấn mạnh vào khâu trọng tâm, có thể giảm bớt độ khó của các động tác và nâng lên từ từ;
  • Khi sử dụng phương pháp phân chia cần chủ ý: Thận trọng trong việc chia nhỏ động tác, cân nhắc kỹ lưỡng từng bộ phận của của động tác để khỏi phá hoại kết cấu hữu cơ của động tác. Phân tích cho học sinh thấy rõ vị trí của từng bộ phận trong toàn bộ động tác và ảnh hưởng qua lại của chúng. Sau khi tập phân chia động tác cần bố trí thời gian thích hợp để tập liên kết các động tác, tiến tới nắm động tác hoàn chỉnh.

          d. Nhóm phương pháp luyện tập, thực hành:

          Phương pháp luyện tập, thực hành là thông qua các hoạt động luyện tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, và nâng cao các tổ chất thân thể. Đó là đặc điểm nổi bật của thể dục thể thao, khác hẳn với các môn văn hóa.

          Phương pháp luyện tập, thực hành bao gồm rất nhiều hình thức, đó là:

          - Hình thức tập luyện lặp lại: tức là tập đi tập lại nhiều lần một động tác với khoảng cách và cường độ không quy định rõ ràng;

          - Hình thức tập luyện biến đổi: Tức là tập một động tác nhưng đã thay đổi hình thức yêu cầu, độ khó và các điều kiện khác;

          - Hình thức trò chơi, thi đấu: Là thông qua trò chơi, thi đấu để luyện tập, nó có tác dụng làm cho học sinh phấn khởi, hào hứng trong tập luyện, đồng thời cũng đánh giá được tương đối khách quan kết quả học tập của học sinh;

          - Hình thức tổ chức học tập: Phân nhóm, phân nhóm quay vòng, tập đồng loạt, tập luyện vòng tròn, chia tổ tập luyện... tạo điều kiện cho học sinh được trao đổi, thảo luận, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.        

                   + Ưu điểm của phương pháp này: Đây là phương pháp đặc trưng của bộ môn, nó khác với các môn học tập văn hóa khác. Sử dụng phương pháp này tạo điều kiện giúp học sinh hình thành kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao sức khỏe, thể chất cho người tập.

                    + Nhược điểm của phương pháp này: Khó hình thành khả năng tư duy cho học sinh trong tập luyện, nếu lạm dụng nhiều sẽ dẫn tới mệt mỏi, nhàm chán trong học tập.

                   + Yêu cầu khi sử dụng phương pháp luyện tập: 

  • Khối lượng vận động trong tập luyện phải phù hợp với sức khỏe, trình độ, giới tính;
  • Khi tập luyện một nội dung, động tác không nên lặp lại quá nhiều lần tránh sự nhàm chán, gây mệt mỏi dễ bị chấn thương;
  • Hình thức tập luyện phải phong phú, (Sử dụng phương pháp tập đồng loạt, phân nhóm, quay vòng hoặc không quay vòng...), không phức tạp, không đòi hỏi nhiều dụng cụ, không tốn nhiều thời gian và luân chuyển đội hình tập luyện quá nhiều.

          e. Phương pháp sửa chữa động tác sai:

          Phương pháp sửa sai là phương pháp dùng để uốn nắn những sai lệch về mặt kỹ thuật ban đầu góp phần hướng cho các em thực hiện đúng, chính xác kỹ thuật, tạo điều kiện tiếp thu kỹ thuật mới nhanh và phòng tránh chấn thương.

                   + Ưu điểm của phương pháp này: Phương pháp này giúp người học nắm rõ chi tiết, cấu trúc, biên độ, hướng chuyển động của động tác. Từ đó chỉnh sửa hình thành kỹ năng cho người học.

                    + Nhược điểm của phương pháp này: Sử dụng phương pháp này nhiều ảnh hướng tới thời gian và chất lượng chung của giờ học.

                   + Yêu cầu khi sử dụng phương pháp này:

  • Phát hiện sớm những sai lệch về mặt kỹ thuật của học sinh, từ đó giúp các em sửa chữa kịp thời, tránh để học sinh tập đi tập lại động tác sai sẽ hình thành những kỹ năng xấu, khó sửa chữa;
  • Tổ chức sửa sai bên ngoài đội hình tập luyện của học sinh, để khỏi ảnh hưởng chung đến thời gian tập luyện chung của cả lớp.

          è Trong các nhóm phương pháp trên, mỗi phương pháp đều có mặt ưu và nhược điểm riêng và không có phương pháp nào là vạn năng cả. Vì vậy giáo viên phải lựa chọn các nhóm phương pháp sao cho phù hợp với nội dung của tiết dạy, sử dụng một cách hợp lý, sử dụng triệt để các mặt tốt của từng phương pháp để tạo cho giờ học luôn sinh động, hấp dẫn, kích thích được tính tích cực, chủ động của học sinh trong tập luyện.

          Một số lưu ý của giáo viên khi tổ chức các hoạt động dạy học theo phương pháp dạy học mới:

          - Giáo viên cần tập trung nhiều vào việc phát huy tính tích cực của học sinh, dành nhiều thời gian cho các em được tập luyện, hoạt động và vui chơi. Giáo viên chỉ giải thích ngắn gọn, súc tích nội dung. Giáo viên yêu cầu học sinh mạnh dạn tham gia vào các hoạt động, giao nhiệm vụ tự quản cho các em. Khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động, tự giác thực hiện nhiệm vụ và tích cực trong tập luyện.

          - Giáo viên thường xuyên tổ chức các hoạt động học tập theo tổ, nhóm, phối hợp tổ chức tập đồng loạt, tập nhóm, tập cá nhân hợp lý. Giáo viên tổ chức cho học sinh tập luyện khoa học sử dụng nhiều bài tập gắn với các trò chơi sinh động, hấp dẫn. Thường xuyên động viên khuyến khích các em trong học tập và tập luyện, thay vì khiến trách khi các em thực hiện chưa tốt nội dung học tập.

          - Giáo viên tăng cường cho học sinh phối hợp giữa tập luyện chính khóa và hoạt động ngoại khóa. Ngoài việc học tập, tập luyện trong giờ Thể dục, giáo viên trang bị cho học sinh kỹ năng tự tổ chức tập luyện và vui chơi ngoài giờ học, bên cạch đó giáo viên cần trang bị cho học sinh những kiến thức cũng như  phương pháp luyện tập an toàn nhằm đạt mục tiêu phát triển sức khỏe, thể lực của học sinh.

          2. Giáo viên cần đề cao và cái tiên công tác đánh giá thường xuyên kết quả học tập của học sinh.

          Trong dạy học công tác đánh giá thường xuyên kết quả học tập của học sinh ở bất kỳ môn học nào cũng rất quan trọng và trong môn Thể dục cũng không ngoại lệ. Để việc dạy học đạt kết quả cao, việc nắm bắt trình độ học sinh ở các nội dung vào từng thời điểm trong năm học rất quan trọng, điều đó giúp giáo viên nắm rõ tình hình học tập, trình độ, khả năng tiếp thu, phát triển của học sinh để có các biện pháp, phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh khác nhau, nhằm đạt kết quả giáo dục tốt nhất. Sau đây là nhóm kỹ thuật thường dùng khi đánh giá thường xuyên kết quả học tập của học sinh trong môn Thể dục.

          a. Đánh giá dựa vào kỹ thuật Quan sát:

          Mục đích quan sát: để thu thập thông tin một cách có hệ thống nhằm giúp giáo viên và học sinh cải thiện kết quả giáo dục, dạy học; có những thông tin đánh giá về học sinh đã thực sự hoàn thành nhiệm vụ đúng tiến độ hay chưa và biết được những ưu điểm cần phát huy, nhược điểm cần giúp đỡ khắc phục; các hoạt động của học sinh, nhóm học sinh trong tương tác với bạn, nhóm bạn để tăng cường và cải thiện mối quan hệ hợp tác giữa các thành viên.

          Nội dung quan sát :

          - Hành vi của học sinh: Quan sát về sắc thái, nét mặt, lời nói, hành động, cử chỉ, tương tác… để đưa ra những nhận định về việc học sinh như: đã hiểu nhiệm vụ chưa? Có chú tâm vào việc thực hiện nhiệm vụ không? Hoàn thành hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ học tập? Có chăm chú lắng nghe khi thảo luận không? Phản ứng khi nghe ý kiến nhận xét đánh giá của giáo viên, của các bạn, sự hợp tác với các bạn trong nhóm…

          - Năng lực của học sinh: Mức độ hoàn thành theo yêu cầu của bài học.

          Một số ví dụ nhận định qua quan sát:

       Quan sát thấy nét mặt biểu lộ hoài nghi, ngơ ngác hoặc tư thế không bình thường, người lắc lư bất ổn, có thể là dấu hiệu học sinh chưa thực sự hiểu nhiệm vụ. Khi học sinh nhìn thẳng, dõi theo giáo viên, có cử chỉ muốn nói điều gì đó thì tùy từng tình huống có thể suy đoán là học sinh đã thực hiện xong nhiệm vụ và muốn được chuyển hoạt động tiếp theo hoặc muốn hỏi giáo viên. Học sinh nào chưa sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, chưa hợp tác với nhóm. Học sinh đã thực hiện xong, thực hiện đúng nhiệm vụ hoặc những điều học sinh còn cảm thấy chưa rõ, chưa yên tâm…

          Ví dụ thực hiện kỹ thuật quan sát:  Để theo dõi một hoặc một nhóm học sinh thường bị chậm tiến độ khi thực hiện một hoạt động. Cách quan sát như sau:

      - Khi giao nhiệm vụ cho cả lớp, giáo viên quan sát xem học sinh đã sẵn sàng chuẩn bị cho việc thực hiện nhiệm vụ học tập (trang phục, sức khỏe, dụng cụ học tập,...) chưa?

       - Đứng gần quan sát xem học sinh này đang tập trung vào việc học hay chưa? Có thể em đang làm việc riêng, hoặc còn chưa hiểu nhiệm vụ được giao.

       - Đến tận nhóm học sinh đang học để quan sát chung cả nhóm, xem học sinh nào đang gặp khó khăn hoặc cần sự giúp đỡ gì.

          Sử dụng kết quả và phản hồi sau khi quan sát:  Các thông tin quan sát là cơ sở để giáo viên đưa ra các quyết định tác động, động viên, nhắc nhở, giúp đỡ kịp thời học sinh trong học tập. Sự can thiệp giúp đỡ có thể tiến hành ngay sau khi thu được thông tin quan sát, hoặc ghi lại trong Nhật kí đánh giá của giáo viên để đưa ra quyết định giúp đỡ, can thiệp sau.

          b. Đánh giá dựa trên chứng cứ tập luyện của HS: (Sổ nhật ký cá nhân)

          Giáo viên cần trang bị cho mình một sổ nhật ký cá nhân nhằm ghi chú những diễn tiến trong quá trình hình thành và phát triển các kỹ năng của học sinh (đặc biệt những em chậm tiến độ) nhằm có biện pháp giúp đỡ kịp thời, điều này cũng giúp giáo viên có căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành của học sinh vào giữa và cuối HK.

          c. Đánh giá dựa trên kiểm tra thực hành:

          Mục đích: Để đánh giá mức độ đạt yêu cầu rèn luyện so với mục tiêu đề ra. Được thực hiện với hình thức hỏi đáp hoặc thực hành, có thể kiểm tra cá nhân, nhóm hoặc HS cả lớp.

           Kiểm tra trong đánh giá thường xuyên môn TD được thực hiện thông qua các hình thức: Kiểm tra miệng, thực hành động tác, chuỗi động tác, các bài tập,...

          d. Đánh giá dựa trên lời trình bày của cá nhân (câu hỏi ngắn, nhiệm vụ nhỏ) Đây là một hình thức kiểm tra nhanh nhằm xác định kịp thời hiện trạng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ bài học của học sinh, có thể thực hiện đầu giờ học hoặc cuối giờ học nhằm khơi gợi hoặc củng cố nội dung bài học.

          Nội dung câu hỏi và nhiệm vụ kiểm tra nhanh tập trung vào các kiến thức có trong bài hoặc các kiến thức cũ có liên quan. Số lượng câu hỏi và nhiệm vụ chỉ nên vừa phải và phù hợp.

          Ví dụ:

          - Em hãy kể tên các động tác đã học của bài TDPTC/Thực hiện động tác vươn thở…

          -  Em hãy nêu những lưu ý đảm bảo an toàn khi chơi trò chơi “Mèo đuổi chuột”…

          e. Đánh giá thông qua tương tác và kết quả hoạt động nhóm:

          Mục đích: Dựa vào những nhận xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của chính học sinh hoặc nhóm bạn học để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ của học sinh. Tùy từng trường hợp mà giáo viên có thể đánh giá để đưa ra giải pháp thích hợp.

          Ví dụ: Khi tổ chức cho học sinh ôn bài TDPTC theo nhóm, giáo viên đề nghị các bạn trong nhóm có thể xây dựng, đóng góp ý kiến nhằm sửa sai động tác cho nhau (đặc biệt là những bạn tập yếu). Học sinh có thể đưa ra ý kiến phán biện bảo vệ quan điểm về việc thực hiện động tác của mình và cuối cùng giáo viên cần có tác động gợi ý, nhắc nhở để học sinh thống nhất những quan điểm chung về kỹ thuật động tác để thực hiện đúng trong tập luyện.

          Việc vận dụng các kỹ thuật đánh giá học sinh cần thực hiện một cách nhuần nhuyễn, thường xuyên và liên tục, đánh giá học sinh cũng cần dựa trên nội dung bài học ứng với từng đối tượng học sinh cụ thể (học sinh khuyết tật, học sinh suy dinh dưỡng, học sinh chậm tiến…) Do vậy, để thực hiện tốt công tác đánh giá học sinh, giáo viên cần phối hợp chặt chẽ cùng với giáo viên chủ nhiệm và gia đình học sinh trong quá trình đánh giá học sinh.

          - Thứ ba: Về phía Nhà trường: “Giáo viên cần làm tốt công tác báo cáo, đề xuất, tham mưu với Nhà trường” Thường xuyên báo cáo với nhà trường về những hạn chế và khó khăn mà giáo viên và học sinh đang gặp phải, bên cạnh đó giáo viên  cần đề xuất với Nhà trường về việc trang bị các thiết bị cần thiết phục vụ tốt công tác giảng dạy, tham mưu xây dựng các công trình, các câu lạc bộ, cũng như tổ chức các hoạt động TDTT cho học sinh tham gia thường xuyên.  Đây là một trong những điều kiện thực tế để nhà trường có thể nắm rõ hơn về những khó khăn của giáo viên và học sinh, hiểu được tâm tư nguyện vọng của giáo viên và học sinh, nhờ đó, vấn đề sẽ được đưa ra hội đồng nhà trường cùng xem xét, đóng góp và tìm hướng giải quyết phù hợp.

          - Thứ tư:  Về phía chính quyền địa phương: “Đề xuất với các tổ chức, đoàn thể trong Nhà trường có kế hoạch phối hợp, tham mưu với chính quyền địa phương về vấn đề tạo sân chơi bổ ích cho học sinh khi các em ở ngoài Nhà trường”. Cần đề xuất với các ban ngành trong Nhà trường có kế hoạch phối hợp, tham mưu với chính quyền địa phương về vấn đề luyện tập TDTT hàng ngày của quần chúng nhân dân nói chung và của thanh, thiếu nhi, học sinh nói riêng. Việc tạo ra các bãi tập, sân chơi cộng đồng cho học sinh, cũng như thường xuyên tuyên truyền, giáo dục các em tham gia vào các hoạt động TDTT lành mạnh là điều kiện quan trọng giúp các em tránh những cám dỗ của tệ nạn xã hội khi các em ở ngoài Nhà trường.

          -Thứ năm: Về phía phụ huynh học sinh: “Giáo viên cần tích cực phối hợp với phụ huynh học sinh trong giáo dục học sinh”. Cần tích cực trao đổi với phụ huynh học sinh để nắm rõ hơn vấn đề tập luyện TDTT hàng ngày của học sinh khi các em ở nhà, việc nắm bắt thông tin sẽ giúp giáo viên có cái nhìn đúng đắn, toàn diện hơn về học sinh, từ đó giáo viên có những nhận định và đưa ra được những phương pháp, biện pháp giáo dục phù hợp. Bên cạnh đó Giáo viên cần làm cho phụ huynh học sinh hiểu rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tập luyện TDTT hàng ngày có tác dụng to lớn như thế nào đối với con em mình, như vậy, phụ huynh học sinh mới thực sự hưởng ứng, tạo điều kiện, kiểm tra và đôn đốc con em mình tập luyện TDTT hàng ngày. Đồng thời khéo léo khuyên phụ huynh học sinh nên tập thể thao hàng ngày, đây là điều kiện, cũng là một tấm gương cho học sinh tập luyện noi theo.

          - KẾT LUẬN: Tăng cương đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là nhằm khơi gợi sự chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực nhằm hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực hơn nhiều so với phương pháp dạy học mang tính thụ động trước đây. Vì vậy, để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên cần tích cực rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt các phương pháp dạy học mới, tích cực, nâng cao năng lực đánh giá nhằm đạt kết quả giáo dục tốt nhất.

          Bên cạnh đó để đạt được mục tiêu giáo dục cần hiểu rõ ý nghĩa sâu sắc của việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục Nhà trường – Gia đình – Xã hội trong giáo dục học sinh. Tại Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/ 1957, Bác Hồ chỉ ra: "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.  Trong lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục, sự thống nhất tác động giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội được xem là vấn đề có tính nguyên tắc đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt. Vì vậy để đạt được kết quả giáo dục tốt nhất người giáo viên cũng cần nắm rõ các yếu tố trong mối quan hệ liên đới giữa Nhà trương, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Để đưa ra các giải pháp giáo dục phù hợp.

          Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã đúc rút ra dựa trên kinh nghệm giảng dạy và qua quá trình nghiên cứu. Tôi nhận thấy những giải pháp trên mang tính thực tiễn và khả thi, có thể áp dụng hiệu quả trong giảng dạy. Nhưng chắc chắn rằng những  giải pháp tôi nêu ra vẫn còn những thiếu sót và hạn chế. Rất mong quý ban giám khảo xem xét đóng góp. Rất chân thành cảm ơn.

 

         XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG                              NGƯỜI THỰC HIỆN

           ĐƠN VỊ TRỰC TIẾP QUẢN LÝ                                 

 

 

                           Lê Văn Thìn

Bài viết liên quan